Các khoản chi mang tính chất phúc lợi được trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNDN

Bên cạnh tiền lương thì phúc lợi cũng là vấn đề được cả người lao động lẫn doanh nghiệp quan tâm nhất. Việc thực hiện các chế độ phúc lợi để thu hút người lao động là việc làm cần thiết của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên chi phí phúc lợi như thế nào thì được tính vào chi phí được trừ có lẽ vẫn là mối băn khoăn với những ai chưa nắm rõ những quy định về phúc lợi. Việc hiểu rõ bản chất và thực hiện theo các quy định của pháp luật vè chi phúc lợi cho người lao động sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động cũng như giảm bớt một khoản thuế Thu nhập doanh nghiệp.

Vấn đề đầu tiên cần lưu ý là chi mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động. Theo khoản 3 Điều 3 Thông tư 25/2018/TT-BTC: Sửa đổi, bổ sung điểm 2.11 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính):

“2.11.Phần chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để: Trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động; Phần vượt mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế để trích nộp các quỹ có tính chất an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí bổ sung bắt buộc), quỹ bảo hiểm y tế và quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Khoản chi trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ có tính chất an sinh xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ ngoài việc không vượt mức quy định tại điểm này còn phải được ghi cụ thể Điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.

Doanh nghiệp không được tính vào chi phí đối với các Khoản chi cho Chương trình tự nguyện nêu trên nếu doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về bảo hiểm bắt buộc cho người lao động (kể cả trường hợp nợ tiền bảo hiểm bắt buộc).”

Như vậy các khoản trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động để được tính vào chi phí được trừ phải thỏa 3 điều kiện sau:

  • Không vượt quá 03 triệu đồng/tháng/người.
  • Được ghi cụ thể Điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.
  • Đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về bảo hiểm bắt buộc cho người lao động.

Tiếp theo, đối với các khoản chi có tính chất phúc lợi, chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động) và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác sẽ được tính vào chi phí được trừ nếu tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

Việc xác định 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp được xác định bằng quỹ tiền lương thực hiện trong năm chia (:) 12 tháng. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động không đủ 12 tháng thì: Việc xác định 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế được xác định bằng quỹ tiền lương thực hiện trong năm chia (:) số tháng thực tế hoạt động trong năm.

Quỹ tiền lương thực hiện là tổng số tiền lương thực tế đã chi trả của năm quyết toán đó đến thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ quyết toán theo quy định (không bao gồm số tiền trích lập quỹ dự phòng tiền lương của năm trước chi trong năm quyết toán thuế).

Lưu ý đối với những doanh nghiệp có Quý phúc lợi thì doanh nghiệp có thể chọn dùng Quỹ phúc lợi để tài trợ. Nếu doanh nghiệp dùng Quỹ phúc lợi để tài trợ thì sẽ không được tính vào chi phí được trừ. Còn doanh nghiệp không dùng Quỹ phúc lợi thì các khoản chi mang tính phúc lợi kể trên được hạch toán vào chi phí và tính vào chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp không được sử dụng đồng thời mà chỉ được chọn một trong hai cách tài trợ nói trên.

Tài liệu tham khảo:

Thông tư 25/2018/TT-BTC

Thông tư 96/2018/TT-BTC

Trang web không cho phép copy nội dung