Khuyến mại có phải đăng ký với sở công thương?

Quy định Luật thuế và khuyến mại:

Theo Thông tư 219/2013/TT-BTC tại khoản 5, Điều 7 quy định về giá tính thuế đối với hàng hóa khuyến mại như sau:

Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho”.

Cũng theo Thông tư 219/2013/TT-BTC tại khoản 5, Điều 14 quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa (kể cả hàng hóa mua ngoài hoặc hàng hóa do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu, tặng, khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ”.

Mặt khác, Khoản 9 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC sửa đổi phụ lục 2.4 Phụ lục 4 Thông tư 39/201/TT-BTC cũng quy định:

2.4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

a) Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải lập hoá đơn, trên hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu và thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về thuế GTGT …
“.

Theo các quy định trên hàng khuyến mại thì doanh nghiệp phải lập hóa đơn: Nếu hàng khuyến mại ‘theo quy định của pháp luật về thương mại‘ thì giá tính thuế bằng không; ngược lại, nếu khuyến mại không ‘theo quy định của pháp luật về thương mại’ thì giá tính thuế được tính như bán hàng thông thường.

Cần làm rõ vấn đề khuyến mại ‘theo quy định của pháp luật về thương mại’ là như thế nào? Hiện nay quy định hàng khuyến mại theo Luật thương mại có gì thay đổi?

Quy định khuyến mại hiện nay của Luật thương mại

Theo Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật thương mại (hiệu lực từ ngày 15/07/2018) thì việc thông báo hoạt động khuyến mại được quy định như sau:

1. Thương nhân thực hiện thủ tục hành chính thông báo hoạt động khuyến mại đến tất cả các Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại (tại địa bàn thực hiện khuyến mại) trước khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức quy định tại Khoản 8 Điều 92 Luật thương mại và các Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14 Nghị định này. Hồ sơ thông báo phải được gửi đến Sở Công Thương tối thiểu trước 03 ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại (căn cứ theo ngày nhận ghi trên vận đơn bưu điện hoặc các hình thức có giá trị tương đương trong trường hợp gửi qua đường bưu điện, căn cứ theo ngày ghi trên giấy tiếp nhận hồ sơ trong trường hợp nộp trực tiếp, căn cứ theo thời gian ghi nhận trên hệ thống thư điện tử hoặc căn cứ theo ngày ghi nhận trên hệ thống trong trường hợp nộp qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến).

2. Các trường hợp 
không phải thực hiện thủ tục hành chính thông báo thực hiện khuyến mại khi khuyến mại theo các hình thức quy định tại Khoản 8 Điều 92 Luật thương mại và các Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14 Nghị định này:

a) Thương nhân thực hiện các chương trình khuyến mại quy định tại Khoản 1 Điều này có tổng giá trị giải thưởng, quà tặng dưới 100 triệu đồng;


b) Thương nhân chỉ thực hiện bán hàng và khuyến mại thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử, website khuyến mại trực tuyến
“.

Như vậy, tổng giá trị hàng hóa của chương trình khuyến mại dưới 100 triệu đồng, hoặc khuyến mại thông qua sàn giao dịch điện tử, website (kể cả tổng giá trị hàng khuyến mại trên 100 triệu đồng) thì doanh nghiệp không cần phải thông báo chương trình khuyến mại về Sở công thương, vẫn phù hợp với Luật thuế, tức giá tính thuế hàng khuyến mại bằng không.

Tóm lại, doanh nghiệp khuyến mại hàng hóa cần lưu ý các vấn đề sau:

– Tổng giá trị hàng hóa của chương trình khuyến mại dưới 100 triệu đồng, khuyến mại thông qua sàn giao dịch điện tử, website thì doanh nghiệp không cần phải thông về Sở công thương.

– Hàng khuyến mại doanh nghiệp phải xuất hóa đơn, ghi rõ hàng khuyến mại không thu tiền. Thuế GTGT đầu vào dùng cho hoạt động khuyến mại được khấu trừ nếu đủ điều kiện luật định.

– Giá tính thuế bằng 0 nếu chương trình khuyến mại dưới 100 triệu đồng hoặc từ 100 triệu đồng trở lên có thông báo với Sở công thương hoặc khuyến mại thông qua sàn giao dịch điện tử, website.

– Nếu trị giá chương trình khuyến mại từ trên 100 triệu đồng mà doanh nghiệp không thông báo chương trình về Sở công thương thì hóa đơn phải ghi các chỉ tiêu, tính, nộp thuế bình thường.

* Các hình thức khuyến mại quy định tại Khoản 8 Điều 92 Luật thương mại và các Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14 Nghị định 81/2018/NĐ-CP:

– Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.

– Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền.

– Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã thông báo (khuyến mại bằng hình thức giảm giá).

– Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ.

– Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (hoặc các hình thức tổ chức thi và trao thưởng khác tương đương).

– Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác.

Theo Ketoan.biz

Trang web không cho phép copy nội dung